Ý tưởng đơn giản sau những khám phá vĩ đại của Einstein

06-11-2019

Ẩn sau lý thuyết hấp dẫn của Einstein và hiểu biết ngày nay của chúng ta về vật lý hạt là ý tưởng về tính đối xứng, một điều tưởng như đơn giản. Nhưng các nhà vật lý ngày nay bắt đầu tự hỏi liệu việc tập trung vào tính đối xứng có còn mang lại nhiều ý nghĩa như trước.

 


Các nhà vật lý từ trái sang phải: Emmy Noethe, Alber Eistein và Wolfgang Pauli. Nguồn: quantamagazine.

Từ một thế kỷ trước, những khám phá của Einstein đã đem lại nhiều khái niệm như lỗ đen, du hành xuyên thời gian, lỗ sâu… không chỉ ăn sâu vào văn hóa đại chúng, thường xuyên xuất hiện trong phim, sách, truyền hình mà còn thúc đẩy những nghiên cứu tiên phong, giúp các nhà vật lý đặt những câu hỏi về bản chất của không gian, thời gian và cả thông tin.

Thế nhưng khá trớ trêu, phần có thể coi là mang tính cách mạng nhất trong di sản của Einstein lại hiếm khi được chú ý. Không gây chấn động như sóng hấp dẫn, không có sức hút của lỗ đen, không mê hoặc như hạt quark nhưng nấp sau tấm rèm của tất cả những hiện tượng kỳ diệu này là một ý tưởng thoạt nhìn rất đơn giản. Nó điều khiển mọi thứ, ghép các mảnh lại với nhau, và chiếu sáng con đường phía trước.

Ý tưởng đó là: Có những thay đổi mà không thay đổi gì cả. Những khía cạnh cơ bản nhất của tự nhiên thực ra vẫn giữ nguyên trong khi bề ngoài dường như thay hình đổi dạng theo những cách khó ngờ. Bài báo năm 1905 của Einstein về Thuyết tương đối dẫn đến kết luận không thể nhầm lẫn về mối quan hệ bất biến giữa năng lượng và khối lượng, dù cả hai đều có thể có nhiều dạng tồn tại khác nhau. Năng lượng của Mặt trời đến Trái đất và trở thành khối lượng dưới dạng lá cây, tạo ra thức ăn cho chúng ta và giúp chúng ta có thể suy nghĩ (nhà vật lý Richard Feynman từng nói một câu thú vị “Trí óc của chúng ta, những nguyên tử có ý thức này, là gì? Là khoai tây ăn tuần trước!”) Đó chính là ý nghĩa của phương trình E = mc2. Hằng số c là tốc độ của ánh sáng, là một số rất lớn, do đó chẳng cần nhiều vật chất (m không cần lớn) để tạo ra được một lượng năng lượng khổng lồ (E vô cùng lớn). Thực tế, mỗi giây Mặt trời chuyển hàng triệu tấn vật chất thành năng lượng.

Quá trình vô tận biến đổi vật chất thành năng lượng (và ngược lại) cung cấp năng lượng cho vũ trụ, vật chất, sự sống. Thế nhưng suốt quá trình này, lượng năng lượng - vật chất của vũ trụ không thay đổi. Thật lạ lùng nhưng là sự thật: bản thân vật chất và năng lượng lại không quan trọng (hoặc nền tảng) bằng mối quan hệ giữa chúng.

Chúng ta có xu hướng nghĩ rằng mọi vật, chứ không phải mối quan hệ giữa chúng, là trung tâm của thực tế. Nhưng thường thì điều ngược lại mới đúng. “Không phải các thứ,” nhà vật lý Stephon Alexander, Đại học Brown, nói.
 

Trang bản thảo đầu tiên của Albert Einstein về Thuyết tương đối rộng. Nguồn: quantamagazine.

Einstein chỉ ra rằng điều đó cũng đúng với những “thứ” như không gian và thời gian, là những khía cạnh có vẻ ổn định, không thể thay đổi của tự nhiên. Sự thực, cái được giữ nguyên là mối quan hệ giữa không gian và thời gian, ngay cả khi không gian co lại và thời gian giãn ra. Cũng như năng lượng và vật chất, không gian và thời gian là những biểu hiện có thể thay đổi của những nền tảng bất di bất dịch nằm ở sâu hơn: những điều không bao giờ thay đổi, bất kể ra sao.

“Einstein có một cái nhìn sâu sắc rằng, về cơ bản, không gian và thời gian được xây dựng bằng mối quan hệ của những gì đang diễn ra,” theo nhà vật lý Robbert Dijkgraaf, Viện Nghiên cứu cao cấp Princeton, New Jersey, nơi Einstein làm việc mấy chục năm cuối đời.

Mối quan hệ quan trọng nhất đối với di sản của Einstein là tính đối xứng. Các nhà khoa học thường mô tả sự đối xứng như những thay đổi mà không thay đổi gì cả, những khác biệt mà không tạo ra khác biệt, những biến đổi bảo toàn các quan hệ sâu hơn. Có thể dễ dàng tìm ra các thí dụ về nó trong cuộc sống hằng ngày. Chúng ta có thể xoay một bông tuyết đi 60 độ, và trông nó vẫn như thế. Chúng ta có thể đổi chỗ hai người ở hai đầu bập bênh, nó vẫn thăng bằng. Những đối xứng phức tạp hơn đã giúp các nhà vật lý phát hiện ra từ hạt neutrino đến hạt quark – chúng còn dẫn đến phát hiện của Einstein rằng lực hấp dẫn là sự cong của không-thời gian, mà, như ta đã biết, có thể co lại thành các lỗ đen.

Trong vài thập kỷ vừa qua, một số nhà vật lý bắt đầu đặt câu hỏi rằng liệu việc tập trung vào tính đối xứng có còn hữu ích như trước. Dù được những lý thuyết dựa trên tính đối xứng dự đoán nhưng những hạt mới vẫn chưa được xác nhận bằng thực nghiệm như kỳ vọng, và hạt Higgs mới được tìm ra lại quá nhẹ để có thể đặt vào một hệ đối xứng đã biết bất kỳ. Tính đối xứng chưa giúp giải thích được tại sao lực hấp dẫn lại yếu như thế, tại sao năng lượng chân không lại quá nhỏ, hay tại sao vật chất tối không tương tác với sóng điện từ.

“Trong vật lý hạt, trước đây tồn tại một định kiến rằng mô tả về tự nhiên của chúng ra bắt nguồn từ tính đối xứng,” nhà vật lý Justin Khoury, Đại học Pennsylvania cho biết. “Nó từng là một ý tưởng rất mạnh. Nhưng biết đâu chúng ta thực sự phải từ bỏ những nguyên lý đẹp đẽ ấy, những nguyên lý được trân trọng và từng rất hiệu quả. Do đó, chúng ta đang ở một thời kỳ thú vị.”

ÁNH SÁNG

Einstein không nghĩ về bất biến hay đối xứng khi viết bài báo đầu tiên về thuyết tương đối vào năm 1905, nhưng các sử gia đoán rằng việc ông bị tách biệt khỏi cộng đồng vật lý trong thời gian làm việc ở văn phòng bằng sáng chế Thụy Sĩ có lẽ đã giúp ông tránh khỏi những cạm bẫy không cần thiết mà người khác hay ngộ nhận.
 


Phải mất thời gian, Einstein mới chấp nhận không gian và thời gian là những sợi chỉ  được dệt chặt với nhau. Nguồn: scientificamerican.com

Như các nhà vật lý cùng thời, Einstein ngẫm nghĩ về nhiều câu hỏi có vẻ không liên quan đến nhau. Các phương trình của Maxwell, về mối liên kết mật thiết giữa điện trường và từ trường, trông rất khác nhau trong những hệ quy chiếu khác nhau – khi người quan sát di chuyển hay đứng yên. Hơn nữa, tốc độ lan truyền trong không gian của trường điện từ gần như đúng bằng tốc độ ánh sáng, được đo đi đo lại bằng nhiều thí nghiệm khác nhau – một tốc độ luôn không đổi. Người quan sát có thể chạy lại gần hoặc chạy xa khỏi nguồn sáng, tốc độ đó vẫn không khác gì.

Einstein ghép các mảnh lại với nhau: tốc độ ánh sáng là một biểu hiện đo được của quan hệ đối xứng giữa điện trường và từ trường – một khái niệm cơ bản hơn cả không gian. Ánh sáng không cần cái gì để đi qua vì nó chính là trường điện từ đang chuyển động. Khái niệm “đứng yên” – hay “chân không” tĩnh của Newton – là không cần thiết và vô nghĩa. Không có khái niệm “ở đây” và “bây giờ” chung cho tất cả: một sự kiện có thể đồng thời xảy ra đối với một người quan sát này, nhưng không xảy ra đối với một người quan sát khác, mà cả hai quan sát đều đúng.

Việc đuổi theo một chùm sáng tạo ra một hiệu ứng thú vị, nó là chủ đề của bài báo thứ hai về thuyết tương đối của Einstein, “Quán tính của một vật có phụ thuộc vào năng lượng của nó?” (Does the Inertia of a Body Depend Upon Its Energy Content?). Câu trả lời là có. Càng chạy nhanh thì càng khó tăng tốc. Sự cản trở này trở thành vô hạn khi vật đạt đến tốc độ ánh sáng. Vì sự cản trở đó là quán tính, và quán tính là một độ đo của khối lượng, nên năng lượng của chuyển động biến thành khối lượng. Einstein viết: “Về cơ bản, không có sự khác biệt nào giữa khối lượng và năng lượng.”

Tuy nhiên phải mất tới vài năm, Einstein mới chấp nhận không gian và thời gian là những sợi chỉ được dệt chặt với nhau, không thể tháo rời của một tấm vải không - thời gian duy nhất. “Ông ấy vẫn chưa hoàn toàn suy nghĩ theo kiểu một không - thời gian hợp nhất,” nhận xét của David Kaiser, nhà vật lý và nhà lịch sử khoa học, Viện Công nghệ Massachusetts.

Không - thời gian hợp nhất là một khái niệm khó tiếp thu. Nhưng nó có vẻ hợp lý nếu chúng ta nghĩ về ý nghĩa thực sự của “tốc độ”. Tốc độ ánh sáng cũng như mọi tốc độ là một quan hệ – khoảng cách đi được chia cho thời gian. Nhưng tốc độ ánh sáng là đặc biệt vì nó không đổi; một chùm laser không thể đi nhanh hơn, dù nó có được bắn từ một vệ tinh đang bay rất nhanh. Bởi thế, đại lượng cần thay đổi phải là khoảng cách và thời gian, tùy theo trạng thái chuyển động, và điều này dẫn tới các hiệu ứng “sự co lại của không gian” và “sự giãn nở của thời gian”. Bất biến là: bất kể một người di chuyển nhanh hơn một người khác bao nhiêu, cả hai đều quan sát cùng một “khoảng cách không - thời gian”. Khi chúng ta ngồi một chỗ, chúng ta hầu như không di chuyển trong không gian mà chỉ di chuyển trong thời gian. Một tia vũ trụ đi được quãng đường rất xa, với tốc độ gần bằng tốc độ ánh sáng, trong rất ít thời gian, và trẻ mãi không già. Dù ta có biến đổi như thế nào, các quan hệ đó vẫn bất biến.

LỰC HẤP DẪN

Einstein bắt đầu với thuyết tương đối hẹp. Nó “hẹp” ở chỗ chỉ được áp dụng cho chuyển động đều trong không-thời gian; nó không đúng cho chuyển động có gia tốc, thí dụ một vật đang rơi. Einstein không hài lòng với một lý thuyết không chứa lực hấp dẫn, và trong khi ông cố gắng đưa lực hấp dẫn vào thuyết tương đối, tính đối xứng đã trở thành ý tưởng trung tâm. Theo Kaiser: “Khi đã hoàn toàn tập trung vào thuyết tương đối rộng, ông ấy đã tìm hiểu kỹ hơn rất nhiều về khái niệm bất biến và khoảng cách không-thời gian, những thứ giống hệt nhau đối với mọi người quan sát.”
 


Galilei thả hai quả cầu nặng nhẹ khác nhau từ trên tháp nghiêng Pisa (các sử gia cho rằng câu chuyện này thực ra không có thật). Nguồn: pinterest.com

Đặc biệt, Einstein cảm thấy bối rối trước một sự khác biệt không tạo ra khác biệt, một đối xứng không tạo ra ý nghĩa. Thật kỳ lạ, khi thả rơi một viên giấy vo tròn và một chùm chìa khóa nặng trĩu, chúng chạm đất cùng một lúc – giống như khi Galilei thả hai quả cầu nặng nhẹ khác nhau từ trên tháp nghiêng Pisa (các sử gia cho rằng câu chuyện này thực ra không có thật). Nếu trọng lực phụ thuộc vào khối lượng, thì vật càng nặng phải càng rơi nhanh. Thế mà, khó hiểu thay, lại không phải như thế.

Ý tưởng then chốt đến từ một thí nghiệm tưởng tượng của Einstein. Ông tưởng tượng một người ngã khỏi một tòa nhà. Người đó sẽ lơ lửng nhẹ nhàng như một phi hành gia trong vũ trụ, cho tới khi bị mặt đất chặn lại. Khi nhận ra rằng một người đang rơi sẽ cảm thấy không có trọng lượng, Einstein nói về khám phá đó như ý nghĩ hạnh phúc nhất trong đời ông. Cũng phải ít lâu sau, Einstein mới hoàn thiện những tính toán chi tiết của thuyết tương đối rộng, nhưng câu đố về lực hấp dẫn đã có lời giải khi ông chỉ ra rằng lực hấp dẫn là sự cong của không-thời gian do những vật nặng như Trái đất gây ra. Ở quanh đó, những vật “rơi” như người trong thí nghiệm của Einstein hay những quả cầu của Galilei chỉ đi theo những con đường được vạch sẵn trong không-thời gian.

Khi thuyết tương đối rộng được công bố, 10 năm sau thuyết tương đối hẹp, một vấn đề nảy sinh: có vẻ như năng lượng không được bảo toàn ở một không-thời gian bị uốn cong quá mức. Có những đại lượng trong tự nhiên luôn luôn bảo toàn: năng lượng (tính cả ở dạng khối lượng), điện tích, động lượng. Nhà toán học xuất sắc người Đức Emmy Noether đã chứng minh rằng mỗi đại lượng được bảo toàn này tương ứng với một đối xứng nào đó, một thay đổi mà không thay đổi gì cả.

Noether chứng minh các đối xứng của thuyết tương đối rộng – bất biến của nó giữa các hệ quy chiếu khác nhau – đảm bảo sự bảo toàn năng lượng. Lý thuyết của Einstein nhờ đó được cứu. Kể từ đó, cả Noether và tính đối xứng chiếm lấy vị trí trung tâm của vật lý.

VẬT CHẤT

Sau Einstein, sức hút của tính đối xứng ngày càng mạnh. Paul Dirac, trong khi tìm cách làm cho cơ học lượng tử tương thích với những điều kiện đối xứng của thuyết tương đối hẹp, tìm thấy một dấu trừ trong một phương trình gợi ý sự tồn tại của “phản vật chất” để đảm bảo cân bằng. Và ông đã đúng. Sau đó không lâu, Wolfgang Pauli trong khi tìm cách giải thích năng lượng hụt đi trong phân rã phóng xạ đã đặt giả thuyết rằng có thể năng lượng đó đã bị một hạt chưa biết nào đó mang đi. Đúng là như thế, và hạt đó là hạt neutrino.

Từ những năm 1950, các bất biến tách riêng ra, trở nên trừu tượng hơn bao giờ hết, “nhảy ra khỏi” phạm vi những đối xứng của không-thời gian, theo lời Kaiser. Những đối xứng có tên “bất biến gauge” này trở nên rất mạnh, chúng “trang bị cho thế giới”, Kaiser cho biết, bằng cách đòi hỏi sự tồn tại của mọi thứ, từ những boson W và Z đến những gluon. “Chúng ta nghĩ rằng có những đối xứng cơ bản đến mức cần được giữ lấy bằng mọi giá, vì thế chúng ta nghĩ ra những thứ mới,” Kaiser tiếp tục. Đối xứng gauge “quyết định cần phải có thêm những nguyên liệu gì.” Nó đại khái cùng một loại với đối xứng của tam giác đều: một tam giác không thay đổi bởi các phép quay 120 độ phải có ba cạnh bằng nhau.

Các đối xứng gauge mô tả cấu trúc bên trong của hệ các hạt tạo nên thế giới của chúng ta. Chúng cho biết tất cả các cách mà các nhà vật lý có thể dùng để xê dịch, quay, làm biến dạng, nói chung là biến đổi các phương trình, mà không thay đổi cái gì quan trọng. “Tính đối xứng cho biết có bao nhiêu cách thay đổi các vật, thay đổi cách tương tác của các lực, và nó chẳng thay đổi gì cả,” Alexander nói. Kết quả làm hé lộ một phần bộ khung nâng đỡ các thành tố cơ bản của tự nhiên.

Sự trừu tượng của các đối xứng gauge khiến một số người không thoải mái. “Chúng ta không thấy cơ chế hoạt động, ta chỉ nhìn được đầu ra,” Dijkgraaf nói. “Tôi nghĩ vẫn còn rất nhiều điều khó hiểu với các đối xứng gauge.”

Để làm rối thêm vấn đề, các đối xứng gauge tạo ra nhiều cách để mô tả cùng một hệ vật lý – rườm rà thừa thãi, như cách nói của nhà vật lý Mark Trodden, Đại học Pennsylvania. Đặc điểm này của lý thuyết gauge, ông giải thích, khiến các tính toán trở nên “phức tạp khủng khiếp.” Hàng trang tính toán cho một câu trả lời đơn giản. “Nó khiến bạn tự hỏi tại sao. Tất cả sự phức tạp trung gian sinh ra từ đâu? Có thể từ sự mô tả rườm rà thừa thãi mà các đối xứng gauge tạo ra.”
 


Hai nhà vật lý Paul Dirac, Wolfgang Pauli (từ trái sang) và nhà vật lý Rudolf Peierls, người đóng vai trò quan trọng trong dự án Manhattan. Nguồn: Wikipedia

Sự phức tạp nội tại đó trái ngược với những gì tính đối xứng thường mang lại: sự đơn giản. Như Dijkgraaf nói, với một họa tiết lát nền lặp đi lặp lại, “ta chỉ cần nhìn một góc nhỏ và có thể đoán ra toàn bộ.” Không cần phải có hai định luật bảo toàn khác nhau, một cho năng lượng và một cho vật chất, khi mà chỉ một là đủ. Vũ trụ đối xứng ở chỗ nó đồng đều một cách vĩ mô; nó không có bên trái hay bên phải, bên trên hay bên dưới. “Nếu không, ngành vũ trụ học sẽ gặp rắc rối to,” Khoury nói.

PHÁ VỠ ĐỐI XỨNG

Vấn đề lớn nhất là tính đối xứng, như chúng ta đang hiểu về nó, dường như không trả lời được một số câu hỏi lớn nhất của vật lý. Quả là tính đối xứng chỉ cho các nhà vật lý cách tìm ra hạt Higg và sóng hấp dẫn – hai phát hiện vĩ đại gần đây. Nhưng đồng thời, những lập luận dựa trên tính đối xứng cũng dự đoán cả đống thứ chưa thể được tìm ra trong thực nghiệm, trong đó có các hạt “siêu đối xứng”, được kỳ vọng sẽ đóng vai trò vật chất tối còn thiếu của vũ trụ và giải thích vì sao lực hấp dẫn lại yếu hơn lực điện từ và các lực khác.

Trong một số trường hợp, những đối xứng có mặt trong các định luật của tự nhiên có vẻ không đúng trong thực tế. Thí dụ, khi năng lượng biến thành vật chất qua phương trình E = mc2, kết quả là lượng vật chất và phản vật chất bằng nhau, tức là một sự đối xứng. Nhưng nếu năng lượng của Big Bang tạo ra lượng vật chất và phản vật chất như nhau, chúng sẽ phải triệt tiêu lẫn nhau và không để lại gì. Thế mà chúng ta vẫn đang ở đây.

Đối xứng hoàn hảo cần phải có trong giai đoạn cực nóng ban đầu của vũ trụ vì lý do nào đó đã bị phá hủy khi vũ trụ nguội đi, như một giọt nước hoàn toàn đối xứng không còn được như thế nữa khi đóng băng. (Một bông tuyết trông y hệt dưới sáu góc nhìn khác nhau, một bông tuyết tan trông y hệt dưới mọi góc nhìn.)

“Ai cũng quan tâm đến những đối xứng tự phá vỡ,” Trodden nói. “Các quy luật của tự nhiên tuân theo một sự đối xứng, nhưng lời giải người ta muốn biết thì không.”
Nhưng cái gì đã phá vỡ sự đối xứng giữa vật chất và phản vật chất?

Sẽ chẳng ai ngạc nhiên nếu vật lý ngày nay hóa ra bị gò bó bởi những cái khung không cần thiết, giống như khái niệm nhầm lẫn “chân không” thời trước Einstein. Một số người nghĩ rằng sự nhầm lẫn hiện tại có thể liên quan đến nỗi ám ảnh với tính đối xứng, hay ít nhất là cách chúng ta đang hiểu nó.

Nhiều nhà vật lý đã và đang khám phá một ý tưởng rất gần với tính đối xứng: “tính đối ngẫu”. Các đối ngẫu không phải là mới trong vật lý. Lưỡng tính sóng-hạt, việc một hệ lượng tử vừa là sóng vừa là hạt, đã có từ buổi đầu của cơ học lượng tử. Nhưng những đối ngẫu được tìm thấy gần đây đã tiết lộ những mối liên hệ đáng ngạc nhiên: thí dụ, một thế giới ba chiều không có lực hấp dẫn về mặt toán học có thể tương đương, hay đối ngẫu, với một thế giới bốn chiều có lực hấp dẫn.

Nếu những mô hình thế giới có số chiều khác nhau là tương đương thì theo Trodden “mỗi chiều, theo nghĩa nào đó, có thể được coi là thay thế được.”

“Các đối ngẫu này chứa các yếu tố – như số chiều – mà chúng ta cho là bất biến nhưng thực ra không phải,” Dijkgraaf nói. Sự tồn tại của hai mô hình tương đương với đầy đủ các tính toán gợi lên “một vấn đề sâu sắc, gần như triết học: Tồn tại hay không một cách mô tả duy nhất của thế giới thực?”

Chưa ai vội từ bỏ tính đối xứng, một phần vì nó đã chứng tỏ sức mạnh, nhưng cũng vì đối với nhiều nhà vật lý, từ bỏ nó đồng nghĩa với từ bỏ “sự tự nhiên” – quan niệm rằng vũ trụ vốn thể bởi một nguyên nhân nào đó, mọi thứ được sắp xếp hoàn hảo đến nỗi không thể hình dung ra một cách nào khác.

Rõ ràng một số khía cạnh của tự nhiên, chẳng hạn quỹ đạo của các hành tinh, là kết quả của lịch sử và tai nạn chứ không phải của tính đối xứng. Tiến hóa sinh học là kết hợp của những cơ chế đã biết và sự tình cờ. Có lẽ Max Born đã đúng khi ông trả lời quan điểm “Chúa không gieo xúc xắc” của Einstein bằng cách chỉ ra rằng “tự nhiên, cũng như mọi thứ con người làm, dường như bị cả tất yếu lẫn ngẫu nhiên chi phối.”

Một số khía cạnh của vật lý sẽ phải được giữ nguyên, chẳng hạn quan hệ nhân quả. “Hệ quả không thể đến trước nguyên nhân,” Alexander nói. Hầu hết những thứ khác thì không.

Một khía cạnh gần như chắc chắn sẽ không có vai trò then chốt trong tương lai là tốc độ ánh sáng, nền tảng của công trình của Einstein. Tấm vải không – thời gian mềm mại mà Einstein dệt nên một thế kỷ trước bị xé vụn trong các lỗ đen và tại thời điểm Big Bang. “Tốc độ ánh sáng không thể giữ nguyên nếu không-thời gian sụp đổ,” Alexander nói. “Nếu không-thời gian sụp đổ, còn cái gì là bất biến?”

Một số đối ngẫu đặt giả thuyết rằng không-thời gian sinh ra từ cái gì đó còn cơ bản hơn, mối quan hệ kỳ lạ nhất: Einstein gọi nó là mối liên kết “ma quái” giữa những hạt trong rối lượng tử. Nhiều nhà khoa học tin rằng những liên kết từ xa này khâu không-thời gian lại. Theo lời Kaiser: “Có hy vọng rằng một thứ như không-thời gian liên tục được tạo ra như một hiệu ứng phụ của những quan hệ cơ bản hơn, trong đó có rối lượng tử.” Nếu điều đó đúng, ông nói, không-thời gian liên tục cổ điển sẽ là một “ảo giác”.

Những ý tưởng mới phải đạt một tiêu chuẩn khó khăn: chúng không được trái với các lý thuyết chặt chẽ đáng tin cậy như cơ học lượng tử và thuyết tương đối, gồm cả các đối xứng nền tảng của nó.

Einstein từng ví việc xây dựng một lý thuyết với việc leo núi. Ở trên một tầm cao mới, ta vẫn thấy lý thuyết cũ đứng đó, nhưng có một diện mạo khác, và ta có thể thấy vị trí của nó trong một khung cảnh rộng hơn, bao quát hơn. Thay vì suy nghĩ với khoai tây của tuần trước, như lời Feynman, những nhà tư tưởng tương lai có thể tìm hiểu vật lý với những thông tin ẩn trong những rối lượng tử dệt nên không-thời gian để trồng khoai tây.


Theo Tia Sáng


 

Content 1 mobi
Content 1
Content 2 mobi
Content 2
Content 9
Content 10
Content 11
Content 12
Content 13
Content 14